Trong thực tiễn tố tụng dân sự, việc người khởi kiện không xác định được nơi cư trú, nơi làm việc hoặc trụ sở của bị đơn là một trong những vướng mắc phổ biến nhất khi chuẩn bị hồ sơ khởi kiện. Bị đơn có thể đã chuyển nơi cư trú, xuất cảnh, hoặc cố ý che giấu tung tích nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ.
Câu hỏi đặt ra là: trong những trường hợp như vậy, người khởi kiện có còn quyền khởi kiện hay không, và hồ sơ khởi kiện cần được xây dựng như thế nào để Tòa án không có căn cứ trả lại đơn.
Bài viết phân tích cơ sở pháp lý hiện hành của vấn đề này, gồm cách xác định địa chỉ bị đơn theo từng nhóm chủ thể, cơ chế xử lý khi không xác định được địa chỉ hiện tại, và hướng giải quyết của Tòa án đối với các tình huống đặc thù.

Cơ sở pháp lý xác định thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ
Địa chỉ của bị đơn không đơn thuần là thông tin hành chính được ghi trong đơn khởi kiện, mà có ý nghĩa quyết định ở hai phương diện tố tụng sau đây.
1. Địa chỉ bị đơn là căn cứ xác định thẩm quyền theo lãnh thổ
Theo điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015, Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc – nếu bị đơn là cá nhân – hoặc nơi bị đơn có trụ sở – nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức – có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm đối với các tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này.
Đây là nguyên tắc chung, được xây dựng nhằm bảo đảm quyền được biết mình bị khởi kiện và quyền tự bảo vệ của bị đơn, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho việc tống đạt văn bản tố tụng, triệu tập đương sự, xác minh và thu thập chứng cứ tại địa bàn nơi bị đơn cư trú.
Nguyên tắc này có hai trường hợp ngoại lệ:
- Thỏa thuận lựa chọn Tòa án của nguyên đơn (điểm b khoản 1 Điều 39 BLTTDS): đối với các tranh chấp thuộc Điều 26, 28, 30 và 32, các đương sự có quyền tự thỏa thuận bằng văn bản để yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn giải quyết.
- Tranh chấp về bất động sản (điểm c khoản 1 Điều 39 BLTTDS): đối với tranh chấp có đối tượng là bất động sản, chỉ Tòa án nơi có bất động sản mới có thẩm quyền giải quyết, không phụ thuộc vào nơi cư trú của bị đơn.
Ngoài ra, khoản 3 Điều 39 BLTTDS quy định nguyên tắc ổn định thẩm quyền: nếu vụ án đã được thụ lý và đang giải quyết đúng thẩm quyền theo lãnh thổ, thì Tòa án đó vẫn tiếp tục giải quyết dù trong quá trình tố tụng có sự thay đổi nơi cư trú, trụ sở hoặc địa chỉ giao dịch của đương sự.
2. Địa chỉ bị đơn là điều kiện bắt buộc của đơn khởi kiện
Theo điểm d khoản 4 Điều 189 BLTTDS 2015, đơn khởi kiện phải ghi đầy đủ tên và nơi cư trú, làm việc của người bị kiện là cá nhân, hoặc trụ sở của người bị kiện là cơ quan, tổ chức – đây là nội dung bắt buộc, không thể bỏ qua. Trường hợp người khởi kiện không ghi, hoặc ghi không đầy đủ, không đúng tên và địa chỉ của người bị kiện, mà sau khi được Thẩm phán yêu cầu vẫn không sửa chữa, bổ sung, thì đây là căn cứ để Tòa án trả lại đơn khởi kiện theo điểm e khoản 1 Điều 192 BLTTDS 2015.

3. Lưu ý về tổ chức hệ thống Tòa án từ ngày 01/7/2025
Ngày 25/6/2025, Quốc hội thông qua Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS, Luật Tố tụng hành chính và một số luật liên quan, gắn với việc tổ chức lại chính quyền địa phương theo mô hình hai cấp. Theo đó, Tòa án nhân dân cấp huyện trước đây được tổ chức lại thành Tòa án nhân dân khu vực, đảm nhiệm phần lớn thẩm quyền xét xử sơ thẩm mà Tòa án nhân dân cấp huyện trước đây thực hiện, trong đó có các tranh chấp quy định tại Điều 26, 28, 30 và 32 BLTTDS.
Tiếp đó, ngày 27/6/2025, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15, có hiệu lực từ ngày 01/7/2025, quy định việc thành lập 34 Tòa án nhân dân cấp tỉnh (gồm 19 Tòa án nhân dân tỉnh và 04 Tòa án nhân dân thành phố) và 355 Tòa án nhân dân khu vực, đồng thời ấn định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ cụ thể của từng Tòa án nhân dân khu vực, trên cơ sở kế thừa quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các Tòa án nhân dân cấp huyện trước đây.
Nội dung Điều 39 BLTTDS về nguyên tắc xác định thẩm quyền theo lãnh thổ (căn cứ vào nơi bị đơn cư trú, làm việc hoặc có trụ sở) không bị thay đổi bởi Luật số 85/2025/QH15. Do đó, khi áp dụng cụm từ “Tòa án nơi bị đơn cư trú” theo Điều 39 BLTTDS trong giai đoạn hiện nay, cần hiểu là Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền theo lãnh thổ tương ứng với nơi cư trú, làm việc hoặc trụ sở của bị đơn, theo danh mục ấn định tại Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15.
Nguyên tắc xác định địa chỉ theo từng nhóm chủ thể
Khoản 1 Điều 5 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP – văn bản hướng dẫn khoản 1 và khoản 3 Điều 192 BLTTDS 2015, hiện vẫn đang có hiệu lực thi hành – quy định cách xác định nơi cư trú của bị đơn theo từng nhóm chủ thể như sau:
Thứ nhất, đối với công dân Việt Nam, hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhưng vẫn còn quốc tịch Việt Nam đã trở về sinh sống tại Việt Nam: nơi cư trú được xác định là chỗ ở hợp pháp mà người đó đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú, hoặc nơi đang thực tế sinh sống theo quy định của pháp luật về cư trú. Pháp luật không đòi hỏi bắt buộc đây phải là địa chỉ đăng ký thường trú; nếu chứng minh được bị đơn đang tạm trú hoặc thực tế sinh sống ổn định tại một địa điểm khác, địa chỉ đó vẫn có giá trị pháp lý tương đương.
Thứ hai, đối với người nước ngoài đang cư trú tại Việt Nam: việc xác định địa chỉ căn cứ theo quy định của pháp luật về nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh và cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam.
Thứ ba, đối với người nước ngoài, hoặc người Việt Nam đang cư trú ở nước ngoài: địa chỉ được xác định căn cứ vào tài liệu, chứng cứ do người khởi kiện cung cấp, hoặc tài liệu, chứng cứ do cơ quan có thẩm quyền cấp, xác nhận.
Thứ tư, đối với cơ quan, tổ chức được thành lập theo pháp luật Việt Nam, hoặc cơ quan, tổ chức nước ngoài có hoạt động tại Việt Nam: địa chỉ được xác định là trụ sở chính hoặc trụ sở của chi nhánh của cơ quan, tổ chức đó, tùy theo quan hệ phát sinh tranh chấp gắn với trụ sở nào.
Theo khoản 2 Điều 5 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP, nếu người khởi kiện đã cung cấp địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở của bị đơn theo đúng hướng dẫn nêu trên, đồng thời địa chỉ đó được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp, xác nhận, hoặc có căn cứ khác chứng minh, thì được coi là đã ghi đúng địa chỉ của bị đơn theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192 BLTTDS 2015 – dù trên thực tế, sau khi thụ lý, Tòa án có thể không tống đạt được văn bản tố tụng tại địa chỉ đó.
Trường hợp không xác định được nơi cư trú hiện tại: cơ chế “nơi cư trú cuối cùng”
Vấn đề phức tạp hơn phát sinh khi người khởi kiện, dù đã tiến hành tìm hiểu, vẫn không thể xác định được nơi cư trú, làm việc hoặc trụ sở hiện tại của bị đơn. Đây là tình huống thường gặp trên thực tế: vợ chồng ly thân nhiều năm không còn liên lạc, con nợ rời khỏi địa phương cư trú, đối tác kinh doanh đã giải thể hoặc ngừng hoạt động mà không thông báo địa chỉ mới.
Khoản 3 Điều 5 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP quy định cơ chế xử lý cho trường hợp này: khi không xác định được nơi cư trú, làm việc hoặc trụ sở hiện tại của bị đơn, người khởi kiện có quyền ghi “nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở cuối cùng” của bị đơn trong đơn khởi kiện – tức là địa chỉ mà bị đơn từng cư trú, làm việc hoặc đặt trụ sở, được người khởi kiện biết đến gần nhất tính đến thời điểm khởi kiện.
Điều kiện tiên quyết để địa chỉ này được chấp nhận là phải được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xác nhận, hoặc có căn cứ khác chứng minh (ví dụ: xác nhận của công an nơi cư trú, hợp đồng thuê nhà trước đây, hồ sơ giao dịch, tài liệu do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cung cấp).
Song song với cơ chế trên, Điều 40 BLTTDS 2015 trao cho nguyên đơn quyền lựa chọn Tòa án trong một số trường hợp nhất định: nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn, nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng, hoặc Tòa án nơi bị đơn có tài sản giải quyết vụ án. Quy định này, kết hợp với Điều 5 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP, tạo thành cơ sở pháp lý tương đối đầy đủ để người khởi kiện vẫn có thể tiếp cận Tòa án ngay cả khi không xác định được nơi cư trú hiện tại của bị đơn.
Về nguyên tắc xử lý, nếu người khởi kiện đáp ứng được các yêu cầu về chứng cứ nêu trên, theo khoản 1 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP, Tòa án có trách nhiệm nhận đơn và xem xét thụ lý vụ án theo thủ tục chung, không được lấy lý do “không rõ địa chỉ hiện tại của bị đơn” để trả lại đơn khởi kiện.
Ngược lại, nếu người khởi kiện không ghi được bất kỳ địa chỉ nào của bị đơn – kể cả nơi cư trú cuối cùng – và không có tài liệu, chứng cứ chứng minh, thì đây là căn cứ để Tòa án trả lại đơn khởi kiện theo điểm e khoản 1 Điều 192 BLTTDS 2015.
Trường hợp đặc thù trong tranh chấp về thừa kế tài sản
Điểm a khoản 3 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP dự liệu một tình huống riêng: tranh chấp về thừa kế tài sản mà có người thuộc diện thừa kế nhưng nguyên đơn không cung cấp được địa chỉ của người đó. Nếu Tòa án đã áp dụng các biện pháp thu thập, xác minh địa chỉ theo đúng quy định của pháp luật mà vẫn không xác định được, thì vụ án vẫn tiếp tục được giải quyết theo quy định của pháp luật, không bị đình chỉ và không bị trả lại đơn.
Trong trường hợp này, phần di sản mà người thừa kế chưa xác định được địa chỉ được hưởng sẽ được Tòa án tạm giao cho người thân thích của người đó, hoặc một trong các đồng thừa kế khác quản lý. Quyền, nghĩa vụ của người thừa kế vắng mặt không bị triệt tiêu, mà sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác khi người đó xuất hiện và có yêu cầu. Cơ chế này nhằm cân bằng giữa yêu cầu bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người thừa kế vắng mặt và nhu cầu giải quyết dứt điểm tranh chấp cho các đồng thừa kế còn lại.
Một số lưu ý thực tiễn cho người khởi kiện

Thứ nhất, người khởi kiện nên chủ động thu thập, lưu giữ tài liệu chứng minh nơi cư trú, làm việc hoặc trụ sở của đối tác, đương sự ngay từ khi phát sinh quan hệ pháp luật (hợp đồng, hóa đơn, biên bản giao dịch, thư điện tử, tin nhắn có ghi địa chỉ), thay vì chỉ tìm kiếm thông tin này khi tranh chấp đã phát sinh.
Thứ hai, nếu không xác định được địa chỉ hiện tại của bị đơn, người khởi kiện cần chủ động xác minh nơi cư trú, làm việc hoặc trụ sở cuối cùng, đồng thời xin xác nhận từ cơ quan có thẩm quyền (công an nơi cư trú, Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan đăng ký doanh nghiệp) để bảo đảm giá trị chứng cứ; đồng thời cân nhắc quyền lựa chọn Tòa án nơi bị đơn có tài sản theo Điều 40 BLTTDS 2015 nếu xác định được tài sản của bị đơn.
Thứ ba, trong trường hợp có căn cứ cho rằng bị đơn cố tình trốn tránh, người khởi kiện nên trình bày rõ trong đơn khởi kiện quá trình tìm kiếm địa chỉ, các biện pháp đã áp dụng, và viện dẫn điểm e khoản 1 Điều 192 BLTTDS 2015 cùng điểm a, điểm b khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP để đề nghị Tòa án tiếp tục thụ lý, giải quyết vụ án.
Thứ tư, ngay cả sau khi được thụ lý, người khởi kiện nên tiếp tục theo dõi quá trình tống đạt văn bản tố tụng; nếu Tòa án gặp khó khăn trong việc tống đạt, người khởi kiện nên chủ động phối hợp cung cấp thêm thông tin, hoặc đề nghị Tòa án xác minh theo điểm c khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP, để tránh nguy cơ vụ án bị đình chỉ giải quyết theo điểm g khoản 1 Điều 217 BLTTDS 2015.
Kết luận
Việc không xác định được địa chỉ hiện tại của bị đơn không đồng nghĩa với việc người khởi kiện mất quyền khởi kiện. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 85/2025/QH15) và Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP đã xây dựng một cơ chế tương đối linh hoạt: chấp nhận địa chỉ cư trú cuối cùng có căn cứ xác nhận, cho phép nguyên đơn lựa chọn Tòa án nơi bị đơn có tài sản, bảo vệ quyền khởi kiện trước hành vi cố tình trốn tránh của bị đơn, đồng thời có cơ chế riêng cho tranh chấp thừa kế có người thừa kế vắng mặt.
Tuy nhiên, cơ chế bảo vệ quyền khởi kiện này không mang tính tuyệt đối ở mọi giai đoạn tố tụng: việc Tòa án thụ lý đơn khởi kiện chỉ là bước đầu tiên; kết quả giải quyết vụ án về sau còn phụ thuộc vào việc có xác định được bị đơn cố tình giấu địa chỉ hay không, theo phân định tại khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP.
Điểm mấu chốt xuyên suốt là địa chỉ ghi trong đơn khởi kiện không nhất thiết phải là địa chỉ chính xác tuyệt đối tại thời điểm nộp đơn, mà quan trọng hơn là phải có căn cứ, chứng cứ hợp lệ chứng minh đó là địa chỉ mà người khởi kiện biết được một cách trung thực, đầy đủ nhất.
Nắm vững các quy định này giúp người khởi kiện tránh rủi ro bị trả lại đơn hoặc bị đình chỉ giải quyết vụ án một cách không cần thiết, đồng thời bảo vệ hiệu quả quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án.
Thông tin liên hệ:
Văn phòng Luật sư Châu Đốc – Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh
📍 Địa chỉ: 92/49/7/20 Nguyễn Thị Chạy, khu phố Chiêu Liêu, Phường Dĩ An, Thành phố Hồ Chí Minh.
📞 Điện thoại: 0987 79 16 32
✉️ Email: luattamduc.law@gmail.com
🌐 Website: luattamduc.vn
📘 Facebook: Luật sư Dân sự
🎵 TikTok: @luatsutuvantphcm
📍 Google Maps: Xem bản đồ
🕐 Thời gian làm việc: Thứ 2 – Thứ 7 (8:00 – 17:00)

