Thủ đoạn phổ biến của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong thực tế 2026
Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là một trong những tội phạm xâm phạm quyền sở hữu tài sản xảy ra phổ biến hiện nay. Đối tượng phạm tội thường lợi dụng sự tin tưởng của người khác để hợp pháp hóa việc tiếp cận tài sản, sau đó chiếm đoạt bằng nhiều thủ đoạn tinh vi. Bài viết dưới đây phân tích những thủ đoạn phổ biến của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong thực tế, giúp người dân nâng cao cảnh giác và có hướng xử lý đúng pháp luật.
1. Lợi dụng mối quan hệ quen biết để mượn tài sản rồi chiếm đoạt
Trong thực tế, lợi dụng mối quan hệ quen biết, thân thiết là thủ đoạn phổ biến nhất của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Người phạm tội thường là bạn bè, người thân, đồng nghiệp hoặc đối tác làm ăn, những người đã có sẵn sự tin tưởng từ phía bị hại.
Ban đầu, đối tượng đưa ra các lý do nghe có vẻ hợp lý như:
-
Mượn tiền xoay vòng ngắn hạn
-
Mượn xe để đi công việc
-
Mượn giấy tờ, tài sản để giải quyết việc gấp
Do tin tưởng, nhiều người giao tài sản mà không lập hợp đồng, không giấy mượn, không biện pháp bảo đảm. Sau khi nhận được tài sản, đối tượng bắt đầu:
-
Trì hoãn việc hoàn trả
-
Cố tình né tránh, không liên lạc
-
Bỏ trốn khỏi nơi cư trú
Hành vi này thể hiện rõ ý thức chiếm đoạt tài sản hình thành sau khi đã được giao tài sản hợp pháp. Nếu có căn cứ chứng minh người mượn cố tình không trả và có dấu hiệu chiếm đoạt, thì đây không còn là quan hệ dân sự thông thường mà có thể bị xử lý về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định của pháp luật hình sự.
Xem thêm: Người say rượu, sử dụng chất kích thích gây rối trật tự công cộng có bị xử nặng hơn không? 2025
2. Mượn tài sản rồi mang đi cầm cố, bán hoặc thế chấp trái phép
Một thủ đoạn rất thường gặp trong các vụ lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là người phạm tội mượn tài sản hợp pháp của người khác nhưng sau đó tự ý định đoạt tài sản trái với thỏa thuận ban đầu.
Các loại tài sản thường bị chiếm đoạt theo cách này gồm:
-
Xe máy, ô tô
-
Điện thoại, máy tính xách tay
-
Máy móc, thiết bị sản xuất
-
Tài sản có giá trị dễ chuyển nhượng
Sau khi mượn được tài sản, đối tượng sẽ:
-
Mang đi cầm cố để lấy tiền tiêu xài
-
Bán cho người khác nhằm chiếm đoạt toàn bộ giá trị tài sản
-
Thế chấp vay tiền mà không có sự đồng ý của chủ sở hữu
Trong nhiều trường hợp, người mượn không còn khả năng chuộc lại tài sản hoặc cố tình không chuộc, dẫn đến việc chủ sở hữu bị mất tài sản hoàn toàn. Hành vi này thể hiện rõ ý chí chiếm đoạt phát sinh sau khi đã được giao tài sản trên cơ sở tin tưởng.
Theo quy định pháp luật, nếu người mượn biết rõ việc cầm cố, bán tài sản sẽ không thể trả lại cho chủ sở hữu nhưng vẫn thực hiện, thì đủ căn cứ xem xét trách nhiệm hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, không đơn thuần là vi phạm nghĩa vụ dân sự.

3. Vay tiền với lý do chính đáng nhưng sử dụng sai mục đích
Một thủ đoạn khá phổ biến khác của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là việc vay tiền với lý do ban đầu hoàn toàn hợp pháp, khiến người cho vay tin tưởng giao tiền.
Người vay thường đưa ra các lý do như:
-
Đầu tư, kinh doanh sinh lời
-
Đáo hạn khoản vay ngân hàng
-
Chữa bệnh, giải quyết việc gia đình cấp bách
-
Thanh toán hợp đồng, công trình
Tuy nhiên, sau khi nhận được tiền, người vay lại:
-
Sử dụng tiền vào mục đích cá nhân khác
-
Đem tiền đi tiêu xài, cờ bạc, cá độ
-
Đầu tư rủi ro dẫn đến mất khả năng thanh toán
Đáng chú ý, trong nhiều trường hợp, người vay ngay từ đầu đã không có khả năng trả nợ, hoặc sau khi vay đã cố tình sử dụng tiền trái với thỏa thuận, dẫn đến việc không thể hoàn trả cho người cho vay.
Nếu có căn cứ chứng minh người vay cố ý sử dụng tài sản trái mục đích, biết rõ hậu quả không thể trả nợ nhưng vẫn thực hiện, thì hành vi này không còn là quan hệ vay mượn dân sự thông thường mà có thể bị xử lý hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Xem thêm: Tranh chấp về chất lượng nhà ở khi mua bán, thuê nhà 2025 – Luật Tâm Đức
4. Thuê tài sản rồi bỏ trốn hoặc cố tình không trả
Trong thực tế, nhiều vụ lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản phát sinh từ các giao dịch thuê tài sản có hợp đồng hợp pháp. Người phạm tội ban đầu thực hiện đầy đủ thủ tục thuê, thanh toán tiền thuê để tạo lòng tin cho bên cho thuê.
Các loại tài sản thường bị chiếm đoạt theo hình thức này gồm:
-
Xe ô tô, xe máy
-
Máy móc, thiết bị xây dựng
-
Thiết bị sự kiện, âm thanh, ánh sáng
-
Nhà ở, kho xưởng
Sau khi nhận tài sản thuê, đối tượng:
-
Bỏ trốn khỏi địa phương
-
Mang tài sản đi cầm cố, bán trái phép
-
Cố tình kéo dài thời gian, không trả tài sản theo hợp đồng
Đáng chú ý, nhiều trường hợp người thuê thay đổi thông tin liên lạc, không còn khả năng hoặc không có thiện chí hoàn trả tài sản, khiến bên cho thuê mất hoàn toàn quyền kiểm soát đối với tài sản.
Khi người thuê lợi dụng hợp đồng thuê để chiếm đoạt tài sản, hành vi này đã vượt ra khỏi phạm vi vi phạm nghĩa vụ dân sự và có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, nếu đáp ứng đủ dấu hiệu cấu thành theo quy định pháp luật.

5. Nhận tiền đặt cọc, tiền tạm ứng rồi chiếm đoạt
Một thủ đoạn phổ biến khác của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là việc nhận tiền đặt cọc hoặc tiền tạm ứng trong các giao dịch dân sự, thương mại nhưng không thực hiện nghĩa vụ như đã cam kết.
Các tình huống thường gặp gồm:
-
Nhận tiền đặt cọc mua bán nhà, đất, xe cộ
-
Nhận tiền tạm ứng thi công, sửa chữa, cung cấp dịch vụ
-
Nhận tiền giữ chỗ, tiền môi giới, tiền cam kết giao dịch
Sau khi nhận tiền, đối tượng:
-
Không triển khai công việc theo thỏa thuận
-
Cố tình kéo dài thời gian để trốn tránh nghĩa vụ
-
Không hoàn trả tiền đã nhận và cắt đứt liên lạc
Trong nhiều vụ việc, người nhận tiền biết rõ mình không có khả năng thực hiện giao dịch hoặc không có ý định thực hiện ngay từ đầu, nhưng vẫn nhận tiền để chiếm đoạt.
Nếu có căn cứ chứng minh người nhận tiền cố ý chiếm giữ, sử dụng số tiền đã nhận và không hoàn trả, thì hành vi này không còn là vi phạm hợp đồng dân sự mà có thể bị xem xét xử lý về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định của Bộ luật Hình sự.
6. Lợi dụng giấy tờ, thủ tục pháp lý để tạo lòng tin rồi chiếm đoạt
Trong nhiều vụ lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, người phạm tội không hành động một cách đơn giản mà chuẩn bị các giấy tờ, thủ tục pháp lý nhằm tạo vỏ bọc giao dịch hợp pháp, từ đó làm nạn nhân mất cảnh giác.
Các loại giấy tờ thường bị lợi dụng gồm:
-
Hợp đồng vay tiền, hợp đồng hợp tác mang tính hình thức
-
Giấy ủy quyền, giấy cam kết, giấy nhận nợ
-
Hợp đồng đặt cọc, hợp đồng dịch vụ
Thoạt nhìn, giao dịch có đầy đủ giấy tờ nên dễ bị xem là tranh chấp dân sự thông thường. Tuy nhiên, sau khi nhận được tài sản hoặc tiền, đối tượng:
-
Không thực hiện nội dung đã cam kết
-
Cố tình kéo dài thời gian trả
-
Trốn tránh nghĩa vụ hoặc bỏ trốn
Điểm mấu chốt để xác định trách nhiệm hình sự là ý chí chiếm đoạt tài sản. Nếu có chứng cứ cho thấy người nhận tài sản chỉ dùng giấy tờ làm công cụ che giấu hành vi chiếm đoạt, thì dù có hợp đồng hay cam kết, hành vi vẫn có thể cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định pháp luật.

7. Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong quan hệ lao động
Trong quan hệ lao động, người lao động thường được doanh nghiệp, tổ chức giao quản lý tiền, hàng hóa hoặc tài sản dựa trên sự tin tưởng. Đây cũng là môi trường dễ phát sinh hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Các trường hợp thường gặp gồm:
-
Nhân viên thu tiền bán hàng nhưng không nộp lại cho công ty
-
Kế toán, thủ quỹ chiếm đoạt tiền quỹ
-
Nhân viên được giao quản lý hàng hóa, tài sản nhưng đem bán hoặc sử dụng cho mục đích cá nhân
Ban đầu, người lao động được giao tài sản hợp pháp theo chức năng, nhiệm vụ được phân công. Tuy nhiên, sau đó họ:
-
Cố tình chiếm giữ tài sản
-
Sử dụng tài sản vào mục đích riêng
-
Bỏ trốn hoặc không khắc phục hậu quả
Nếu có đủ căn cứ chứng minh người lao động lợi dụng vị trí công việc, sự tín nhiệm của người sử dụng lao động để chiếm đoạt tài sản, thì hành vi này có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, độc lập với việc xử lý kỷ luật lao động hoặc bồi thường dân sự.
8. Lợi dụng việc nhờ giữ hộ tài sản, nhận tiền hoặc chuyển tiền giúp để chiếm đoạt
Một thủ đoạn không hiếm gặp của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là việc lợi dụng sự tin tưởng khi được nhờ giữ hộ tài sản, nhận tiền hộ hoặc chuyển tiền giúp.
Các tình huống thường xảy ra gồm:
-
Nhờ giữ hộ tiền trong thời gian ngắn
-
Nhờ nhận tiền thay cho người khác
-
Nhờ đứng tên tài khoản ngân hàng để nhận tiền
-
Nhờ quản lý tài sản trong lúc chủ sở hữu vắng mặt
Ban đầu, việc giao tài sản hoàn toàn xuất phát từ sự tin cậy cá nhân, không kèm theo biện pháp bảo đảm chặt chẽ. Sau khi nhận được tài sản hoặc tiền, người được nhờ:
-
Không hoàn trả theo thỏa thuận
-
Cố tình chiếm giữ và sử dụng cho mục đích cá nhân
-
Trốn tránh trách nhiệm hoặc cắt đứt liên lạc
Nếu có căn cứ cho thấy người được nhờ lợi dụng việc được giao quản lý, giữ hộ tài sản để chiếm đoạt, thì hành vi này không còn là mâu thuẫn dân sự đơn thuần mà có thể bị xem xét xử lý về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định của pháp luật hình sự.
Thông tin liên hệ:
Văn phòng Luật sư Châu Đốc – Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh
📍 Địa chỉ: 92/49/7/20 Nguyễn Thị Chạy, khu phố Chiêu Liêu, Phường Dĩ An, Thành phố Hồ Chí Minh.
📞 Điện thoại: 0987 79 16 32
✉️ Email: luattamduc.law@gmail.com
🌐 Website: luattamduc.vn
📘 Facebook: Luật sư Dân sự
🎵 TikTok: @luatsutuvantphcm
📍 Google Maps: Xem bản đồ

